Liên kết website
 
 
Thống kê lượt truy cập
 
Trực tuyến:
Lượt truy cập:
 
Tài nguyên Nước
 

Khai thác tài nguyên nước (TNN) phải nộp tiền cấp quyền khai thác

 
Logo ngành tài nguyên và môi trường

Nước là tài nguyên vô giá của Quốc gia, vô cùng cần thiết cho đời sống con người và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, nguồn tài nguyên này đang đứng trước những thách thức của việc gia tăng nhu cầu sử dụng, dẫn đến khai thác quá mức, gây suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm. Vì vậy, nước cần được khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững. Đối với Việt Nam, do nằm ở hạ nguồn các con sông chảy qua nhiều quốc gia lớn nên nguồn TNN của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào việc bảo vệ, khai thác, sử dụng nước của các quốc gia thượng nguồn và việc giải quyết các vấn đề nguồn nước quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia.

Tuy có đặc điểm là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, nhưng TNN lại không phải là vô hạn, trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn. Điều đó đặt ra yêu cầu mới về chia sẻ nguồn nước. Cần áp dụng chế độ thu tiền khi nhà nước trao quyền sử dụng tài sản của mình cho tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm sự công bằng và phù hợp với việc quản lý TNN như một loại tài sản của Nhà nước.

Luật TNN quy định: Tổ chức, cá nhân khai thác TNN phải nộp tiền cấp quyền khai thác TNN trong các trường hợp sau đây: Khai thác nước để phát điện có mục đích thương mại; khai thác nước để phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp; khai thác nước dưới đất để trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản tập trung với quy mô lớn. Tiền cấp quyền khai thác TNN được xác định căn cứ vào chất lượng của nguồn nước, loại nguồn nước, điều kiện khai thác, quy mô, thời gian khai thác, mục đích sử dụng nước. Luật TNN cũng giao Chính phủ quy định cụ thể các trường hợp khai thác TNN phải nộp tiền cấp quyền khai thác, phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác TNN.

Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2017 quy định:

Đối với khai thác nước mặt: Khai thác nước mặt để phát điện; khai thác nước mặt để phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp, bao gồm cả nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi.

Đối với khai thác nước dưới đất: Khai thác nước dưới đất để phục vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sản xuất phi nông nghiệp, bao gồm cả nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi; khai thác nước dưới đất (trừ nước lợ, nước mặn) để nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc, tưới cà phê, cao su, điều, chè, hồ tiêu và cây công nghiệp dài ngày khác với quy mô từ 20m³ngày đêm trở lên.

Mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được quy định theo mục đích khai thác nước, có giá trị từ 0,1% - 2%, khai thác nước dùng cho sản xuất thủy điện mức thu 1%; khai thác nước dùng cho kinh doanh, dịch vụ mức thu 2%; khai thác nước dùng cho sản xuất phi nông nghiệp, trừ nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi mức thu 1,5%.

Khai thác nước dưới đất dùng cho tưới cà phê, cao su, điều, chè, hồ tiêu và cây công nghiệp dài ngày khác; khai thác nước mặt, nước dưới đất để làm mát máy, thiết bị, tạo hơi thì mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước là 0,2%.

Mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với khai thác nước dưới đất dùng cho nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc là 0,1%.

Giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho sản xuất thủy điện là 70% giá điện dùng để tính thuế tài nguyên nước dùng cho sản xuất thủy điện. 

Giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với các trường hợp khác là giá tính thuế tài nguyên nước do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước ban hành và phù hợp khung giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên do Bộ Tài chính quy định.

Hoàng Thống

 
Truyền thông TN&MT
 
Nội dung web đã chọn không còn tồn tại.